Bài đăng nổi bật

Các trường hợp thỏa thuận tài sản trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Thực tế, vợ chồng có thể có các thỏa thuận tài sản trong thời kỳ hôn nhân , tuy nhiên không phải thỏa thuận nào cũng được pháp luật công ...

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

Chồng vay tiền rồi bỏ đi, vợ có cần trả thay không?


Tài sản và khoản nợ được tạo ra trong thời kì  hôn nhân phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng. Tuy nhiên, không phải mọi khoản nợ đều được xem là khoản nợ chung của hai người. Pháp luật Việt Nam quy định rõ các nghĩa vụ chung và nghĩa vụ riêng về tài sản giữa vợ và chồng. Vậy, nếu người chồng vay tiền rồi bỏ đi, người vợ có nghĩa vụ phải trả thay hay không? Trong phạm vi bài viết dưới đây, chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề trên.


chồng- vay-tiền-rồi-bỏ-đi-vợ-có-cần-trả-thay-không



Những quy định chung về hợp đồng vay tiền.
Hợp đồng vay tiền chưa được quy định cụ thể tại bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào, vì vậy nó được xem như là hợp đồng vay tài sản được quy định tại Bộ luật dân sự 2015 và các vấn đề pháp lý liên quan sẽ được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự 2015 theo quy định về giao dịch dân sự và hợp đồng vay tài sản.
Căn cứ tại điều 463 Bộ luật dân sự 2015 thì hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Hợp đồng vay tiền là một giao dịch dân sự, vì vậy chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự 2015:
  •         Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
  •         Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
  •         Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

chồng-vay-tiền-rồi-bỏ-đi-vợ-có-phải-trả-thay-không


Nghĩa vụ chung và riêng về tài sản giữa vợ, chồng.
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định các trường hợp khi nào vợ, chồng có nghĩa vụ chung và nghĩa vụ riêng đối với tài sản. Cụ thể:
Điều 37 về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:
  •         Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
  •         Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
  •         Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
  •         Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
  •         Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
  •         Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

 Điều 45 về nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng:
  •        Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
  •         Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 điều 37 của Luật này;
  •        Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ,chồng.

Những quy định trên chỉ ra rẳng đối với những nghĩa vụ phát sinh do mục đích hướng đến sự phát triển của gia đình, cho những lợi ích chung thì vợ chồng có nghĩa vụ chung đối với tài sản. Tuy nhiên, với các nghĩa vụ mà được hình thành từ những lợi ích riêng, hay những hành vi không liên quan đến mục tiêu chung của gia đình thì nghĩa vụ của ai người đó tự chịu.



Vợ có phải trả tiền thay khi chồng vay tiền rồi bỏ đi không?
Từ những quy định nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng nói trên thì đối với vấn đề khi chồng vay tiền rồi bỏ đi, người vợ có thể có nghĩa vụ trả thay hoặc không tùy vào từng trường hợp:
Vợ phải trả tiền thay cho chổng nếu hợp đồng vay tiền được xác lập phát sinh nghĩa vụ chung về tài sản thuộc một các trường hợp sau:
  •         Vợ và chồng cùng thỏa thuận xác lập hợp đồng vay tiền đó.
  •       Chồng xác lập hợp đồng vay tiền với mục đích phục vụ cho nhu cầu thiếu yếu của gia đình như nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của gia đình, học tập của con cái,…

Vợ không phải trả tiền thay nếu hợp đồng vay tiền đó không phát sinh nghĩa vụ trả nợ chung, thuộc nghĩa vụ riêng về tài sản của chồng và người chồng phải tự trả đối với trường hợp sau:
  •         Vợ không biết hoặc không có thỏa thuận về việc xác lập hợp đồng vay tiền và chứng minh được việc vay tiền của chồng nhằm mục đích khác với việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của chúng tôi về vấn đề : “Chồng vay tiền rồi bỏ đi, vợ có cần trả thay không?”. Nếu Quý khách có thắc mắc về vấn đề trên hoặc cần hỗ trợ bất cứ dịch vụ pháp lý nào, xin vui lòng gọi ngay hotline 0908 748 368 để được hỗ trợ tận tình.

Điều kiện chào bán nhà hình thành trong tương lai


Hiện nay việc mua bán nhà ở diễn ra phổ biến đặc biệt là đối với việc mua nhà hình thành trong tương lai ngày càng được tăng cao. Nhiều chủ đầu tư quyết tâm nhảy vào để có cơ hội kinh doanh kiếm thu nhập nhưng cũng không khỏi măc phải những vướng mắt mà pháp luật quy định. Một trong những câu hỏi lớn, điều kiện để chào bán nhà hình thành trong tương lai là gì?

Điều kiện chào bán nhà hình thành trong tương lai
điều kiện bán chào bán nhà hình thành trong tương lai

Thời điểm được quyền bán
Theo quy định tại Điều 55 Luật kinh doanh bất động sản quy định, điều kiện của bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh
  •         Có giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Giấy phép xây dựng đối với trường hợp phải có Giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án; trường hợp là nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để ở hình thành trong tương lai thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó.
  •         Trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư phải có văn bản thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua.
  •         Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua; trường hợp không đủ điều kiện phải nêu rõ lý do.

Theo đó, bất động sản (bao gồm cả nhà ở) khi chào bán phải có giấy tờ về quyền sử dụng đất (dự án), hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Giấy phép xây dựng đối với trường hợp phải có Giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án; trường hợp là nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để ở hình thành trong tương lai thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó.
Trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư phải có văn bản thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua.
Còn trong giai đoạn dự án chưa đáp ứng các điều kiện nêu trên thì các Chủ đầu tư sẽ có hai giải pháp đó là ký hợp đồng đặt cọc hoặc ký hợp đồng góp vốn chia căn hộ.

điều-kiện-để-chào-bán-nhà-ở-hình-thành-trong-tương-lai


Tiến độ và tỷ lệ vốn được huy động vốn
Việc thanh toán trong mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai được thực hiện nhiều lần, lần đầu không quá 30% giá trị hợp đồng, những lần tiếp theo phải phù hợp với tiến độ xây dựng bất động sản nhưng tổng số không quá 70% giá trị hợp đồng khi chưa bàn giao nhà, công trình xây dựng cho khách hàng; trường hợp bên bán, bên cho thuê mua là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì tổng số không quá 50% giá trị hợp đồng.
Trường hợp bên mua, bên thuê mua chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì bên bán, bên cho thuê mua không được thu quá 95% giá trị hợp đồng; giá trị còn lại của hợp đồng được thanh toán khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên mua, bên thuê mua.

điều-kiện-chào-bán-nhà-ở-hình-thành-trong-tương-lai


Bảo lãnh của Ngân hàng thương mại đối với chủ đầu tư dự án khi bán/ cho thuê nhà ở hình thành trong tương lai
Theo quy định tại điều 56 Luật kinh doanh bất động sản, bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai
  • Chủ đầu tư dự án bất động sản trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải được ngân hàng thương mại có đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với khách hàng khi chủ đầu tư không bàn giao nhà ở theo đúng tiến độ đã cam kết với khách hàng.·       
  • Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố danh sách ngân hàng thương mại có đủ năng lực thực hiện bảo lãnh trong kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai.
  • Phạm vi, điều kiện, nội dung và phí bảo lãnh do các bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm thực hiện trách nhiệm của bên bảo lãnh quy định tại khoản 3 Điều này và phải được lập thành hợp đồng. Chủ đầu tư có trách nhiệm gửi bản sao hợp đồng bảo lãnh cho bên mua, bên thuê mua khi ký kết hợp đồng mua, thuê mua.
  • Hợp đồng bảo lãnh có thời hạn cho đến khi nhà ở được bàn giao cho bên mua, bên thuê mua.
  • ·  Trường hợp chủ đầu tư không thực hiện bàn giao nhà ở theo tiến độ đã cam kết và bên mua, bên thuê mua có yêu cầu thì bên bảo lãnh có trách nhiệm hoàn lại số tiền ứng trước và các khoản tiền khác cho khách hàng theo hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở và hợp đồng bảo lãnh đã ký kết.
  • Việc bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai thực hiện theo quy định tại Điều này và quy định của pháp luật về bảo lãnh.

Theo đó, chủ đầu tư dự án bất động sản trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải được ngân hàng thương mại có đủ năng lực (danh sách ngân hàng này được Ngân hàng nhà nước công bố và hiện giờ chỉ có vài Ngân hàng là không được bảo lãnh bất động sản) thực hiện bảo lãnh nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với khách hàng khi chủ đầu tư không bàn giao nhà ở theo đúng tiến độ đã cam kết với khách hàng.
Trên đây là nội dung tư vấn về vấn đề: “Điều kiện chào bán nhà ở hình thành trong tương lai”. Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng liên hệ Hotline 0908 748 368 để được luật sư tư vấn.

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

Sổ đỏ bị cấp trùng cho nhiều người có khởi kiện được không?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là minh chứng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Chính vì vậy, khi sổ đỏ bị cấp trùng thì sẽ xảy ra những tranh chấp trong đất đai . Vậy Sổ đỏ bị cấp trùng cho nhiều người có được khởi kiện để bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, hộ gia đình sở hữu đất hợp pháp không?


Quy định về giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất

Theo Điều 104, 105 Luật Đất đai 2013 quy định về việc cấp Giấy chứng nhận đối với quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, bao gồm các chủ thể sau:
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
  • Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
  • Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Cách giải quyết

Việc sổ đỏ bị cấp trùng cho nhiều người là không phù hợp và theo Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 đã nêu ra cách giải quyết vấn đề này dựa trên quy định về những trường hợp Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp có:Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

Như vậy, trường hợp này những cá nhân, hộ gia đình sở hữu sổ đỏ bị cấp trùng sẽ bị thu hồi lại Giấy chứng nhận đã cấp. Nếu xảy ra tranh chấp và thỏa thuận được với nhau thì phải có văn bản thỏa thuận. Văn bản đó sẽ là căn cứ để yêu cầu ủy ban nhân dân huyện thu hồi và thực hiện cấp lại cho đúng diện tích thực tế. 

Nếu không thỏa thuận thì khi cấp trùng cho nhiều người mà những người được cấp trùng này không có quyền sử dụng đất thì người bị cấp trùng có quyền khởi kiện.


Thủ Tục Khởi Kiện

Trong trường hợp này, Người bị kiện là Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy, Thẩm quyền của Tòa án là Tòa án nhân dân. Thủ tục khởi kiện là thủ tục chung theo Luật tố tụng hành chính 2015.

TAND xem xét các căn cứ mà các bên đưa ra, dựa trên cơ sở việc ai sử dụng ổn định lâu dài thì sẽ xác định ai là người sử đụng đất theo quy định tại điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Cụ thể Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định như sau: Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

Theo đó, nếu người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đáp ứng được điều kiện để xác định có sử dụng đất ổn đinh, lâu dài trước thời điểm bên còn lại sử dụng trên diên tích đất đang xảy ra tranh chấp thì khi Tòa án giải quyết sẽ được công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đó.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về chủ đề “Sổ đỏ bị cấp trùng có khởi kiện được không?”. Nếu có thắc mắc hoặc muốn tư vấn trực tiếp, Qúy khách hàng vui lòng liên hệ Luật sư Đỗ Thanh Lâm qua hotline 0974.885.368, để được tư vấn miễn phí.

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2019

Di Chúc Để Lại Đất Đai Thế Nào Mới Có Hiệu Lực?

Với tâm lý mong muốn viết di chúc để lại đất đai cho các người thừa kế nhưng lại vì không am hiểu các quy định của pháp luật, sợ rằng bị rơi vào trường hợp di chúc của mình không có hiệu lực nên nhiều người còn đang e ngại. Nắm bắt tâm lý này, trong phạm vi bài viết này chúng tôi sẽ đưa đến cho quý bạn đọc câu trả lời cho câu hỏi Di chúc để lại đất đai thế nào mới có hiệu lực?

Di chúc và các điều kiện để di chúc có hiệu lực?

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Người lập di chúc Phải là người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật dân sự 2015 có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Người lập di chúc có quyền sau đây:

  • Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
  • Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
  • Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
  • Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
  • Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Về hình thức của di chúc thì di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. 

Di chúc bằng văn bản bao gồm:

  • Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Người lập di chúc phải tự viết tay và ký vào bản di chúc (Điều 633) 
  • Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc (Điều 634 BLDS 2015)
  • Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc Di chúc bằng văn bản có chứng thực theo quy định tại điều 635 Bộ luật Dân sự: "Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc."

Di chúc miệng

1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.”
Nội dung của di chúc:

1. Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.”

Di chúc hợp pháp còn phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Ngoài việc phải tuân thủ các quy định để di chúc là di chúc có hiệu lực thì di chúc đó phải không thuộc các trường hợp di chúc vô hiệu:

Di chúc vô hiệu do việc áp dụng di chúc không còn phù hợp với thực tế: Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Điều kiện để đất đai được phép để thừa kế:

Theo quy định của Luật đất đai tại Khoản 1 Điều 186 thì: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.”

Bên cạnh đó thì Điều 168 Luật đất đai cũng có quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Từ đó ta có thể rút ra kết luận điều kiện để thừa kế quyền sử dụng đất là người sử dụng có giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án và trong thời hạn sử dụng đất. 
Vậy nên để trả lời cho câu hỏi đã nêu ra ở đầu bài chúng tôi xin khái quát ngắn gọn rằng di chúc để lại đất đai có hiệu lực khi quyền sử dụng đất đó được phép để thừa kế và di chúc để thừa kế đất đai tuân thủ đúng những yêu cầu về di chúc, không bị vô hiệu.


Trên đây là những quy định của pháp luật về việc làm thế nào để di chúc để lại đất đai có hiệu lực. Trong trường hợp Quý bạn đọc có thắc mắc hay vấn đề nào chưa rõ, xin hãy liên hệ ngay với Luật sư Phan Mạnh Thăng qua Hotline: 0908 748 368 để được tư vấn miễn phí.

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

Con Không Cấp Dưỡng Cho Cha Mẹ Già Yếu Có Phạm Tội Không?

Hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ là nghĩa vụ của mỗi người con. Tuy nhiên trên thực tế không phải người con nào cũng thực hiện nghĩa vụ trên. Trong một số trường hợp, họ xem việc cấp dưỡng cho cha mẹ đã già yếu mang lại gánh nặng cho bản thân và từ đó họ bỏ mặc cha mẹ của mình. Những hành vi này đã đi ngược lại những giá trị văn hóa tốt đẹp của người Việt. Vì thế mà pháp luật đã quy định cụ thể nghĩa vụ cấp dưỡng của con cái đối với cha mẹ trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Vậy nếu con cái không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ già yếu thì có phạm tội không?

Nghĩa vụ cấp dưỡng của con cái đối với cha mẹ

Theo Điều 111 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Và theo Điều 107 Luật này thì đây là nghĩa vụ không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

Mức cấp dưỡng được Luật Hôn nhân và gia đình quy định như sau:

  • Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp nhiều người con cùng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ thì thực hiện theo quy định tại Điều 109 Luật Hôn nhân gia đình. Đó là những người con thỏa thuận với nhau về phương thức và mức đóng góp phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Những nội dung trên trong Luật Hôn nhân gia đình chỉ bao gồm những quy định về việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Vậy đâu là chế tài đối với việc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ này? Hãy cùng tìm hiểu quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Quy định của pháp luật hình sự

Điều 186 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2015 quy định về Tội từ chối hoặc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như sau Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Xét cấu thành tội phạm của tội trên:

Khách thể: Tội từ chối hoặc tội trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng xâm phạm đến quyền bảo đảm cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của người được cấp dưỡng trong đời sống hằng ngày.

Mặt khách quan:

Mặt khách quan của tội từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng đòi hỏi phải có hành vi từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người mà bản thân họ có nghĩa vụ cấp dưỡng. Cụ thể đó là hành vi của người theo quy định của pháp luật có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho người khác nhưng đã khước từ, không chịu chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng.

Mặt khách quan của tội trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đòi hỏi phải có hành vi cố tình tìm cách lảng tránh trách nhiệm cấp dưỡng cho người khác mà theo quy định của pháp luật phải có nghĩa vụ cấp dưỡng. Hành vi này có thể là hứa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng không thực hiện mặc dù có đủ điều kiện kinh tế, cố tình lánh mặt khi người được cấp dưỡng cần gặp mặt,…

Hậu quả của hành vi này làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm.

Chủ thể: Chủ thể của tội phạm ngoài việc đáp ứng hai điều kiện về tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 14 và không rơi vào tình trạng không có năng lực TNHS theo Điều 21 BLHS thì phải là những người thành niên có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.

Xét về hình phạt: Người phạm tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Như vậy, nếu con cái (đã đáp ứng điều kiện về mặt chủ thể) từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cấu thành tội tương ứng khi gây ra hậu quả nghiêm làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm.

Quy định của pháp luật hành chính

Khi con cái có hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cha mẹ già yếu mà những hành vi này chưa đáp ứng được những dấu hiệu được quy định tại mặt khách quan của các tội tương ứng thì sẽ áp dụng những quy định của pháp luật hành chính để xử phạt hành chính.

Điều 54 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình quy định như sau Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: 
  • Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật. 
  • Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
Từ quy định trên, khi con cái từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cha mẹ thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Trên đây là bài viết về Con không cấp dưỡng cho cha mẹ già yếu có phạm tội không. Trong trường hợp còn vướng mắc, xin hãy liên hệ Luật sư Đỗ Thanh Lâm qua Hotline 0974885 368 để được tư vấn miễn phí và hỗ trợ kịp thời.


Thứ Hai, 26 tháng 8, 2019

Khi Nào Chủ Sở Hữu Có Quyền Đòi Lại Tài Sản Từ Người Thứ Ba Ngay Tình?

Người thứ ba ngay tình được pháp luật hiện nay cho nhiều chế định để bảo vệ. Vậy thế nào là người thứ ba ngay tình và khi nào chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình? Để làm rõ hơn những thắc mắc của quý khách, chúng tôi xin cung cấp những thông tin liên quan đến chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình.


Thế nào là người thứ ba ngay tình?

Người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự thì pháp luật Dân sự không định nghĩa cụ thể thế nào người thứ ba ngay tình nhưng có thể hiểu người thứ ba ngay tình là người tại thời điểm tham gia giao dịch dân sự người này không có cơ sở để biết việc giao dịch của mình với người không có quyền định đoạt tài sản hoặc đối tượng tài sản của giao dịch liên quan đến giao dịch trước đó đã bị vô hiệu do tại thời điểm khi tham gia vào giao dịch dân sự, người thứ ba ngay tình hoàn toàn tin rằng người giao dịch với mình là người có quyền giao dịch và đối tượng tài sản giao dịch đáp ứng các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực, từ đó cho thấy người ngay tình hoàn toàn không có lỗi khi tham gia vào giao dịch.

Khi nào chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình?

Để làm rõ khi nào chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình thì trước tiên chúng tôi xin làm rõ những chế định liên quan đến người thứ ba ngay tình theo pháp luật Dân sự Viêt Nam: 

Đầu tiên, về việc chiếm hữu có căn cứ pháp luật, theo Điều 165 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Sau đây gọi tắt là BLDS 2015), thì chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong nhưng trường hợp sau:
  • Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
  • Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
  • Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao địch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
  • Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đấm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
  • Trường hợp khác do pháp luật quy định.
Thứ hai, về chiếm hữu ngay tình, theo Điều 180 BLDS 2015 thì chiếm hữu ngay tình là Việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để chứng minh rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu. Vậy pháp luật yêu cầu người chiếm hữu phải chứng mình được rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu, thì mới là chiếm hữu ngay tình.

Vậy người ngay tình là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình. Tức là ngừơi đó chiếm hữu tài sản mà không biết, không thế biết việc đó là không có căn cứ pháp luật như trường hợp người mua phải của gian mà không biết không thể biết đó là của gian.

Việc đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 133 BLDS 2015 thì chủ sở hữu không được đòi tài sản không được đăng kí từ người thứ ba ngay tình nếu giao dịch với ngừơi thứ ba đã được xác lập. Tuy nhiên, theo Điều 167 BLDS 2015 thì chủ sở hữu vẫn được đòi lại động sản không được đăng ký trong trường hợp người ngay tình có được tài sản thông qua hợp đồng không đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp là hợp đồng đền bù thì chủ sở hữu được đòi lại động sản nếu động sản đó bị cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý trí của chủ sở hữu.

Thứ hai, theo khoản 2 Điều 133 BLDS 2015, thì chủ sở hữu không được đòi tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu sau khi đăng ký tài sản đó được chuyển bằng giao dịch cho người thứ ba ngay tình mà người đó căn cứ vào đăng ký để xác lập giao dịch và giao dịch của người thứ ba ngay tình không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải được đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch của người thứ ba vô hiệu. Trừ trường hợp người này nhận được tài sản thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị sửa, hủy.

Thứ ba, theo khoản 3 Điều 133 BLDS 2015, trong trường hợp chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình thì có thể kiện, yêu cầu chủ thể dẫn lối đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba bồi thường và hoàn trả lại những chi phí hợp lý. Việc này nhầm lấy lại phần nào đó quyền lợi cho chủ sỡ hữu.

Như vậy, chủ sở hữu thật sự có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình nếu thuộc các trường hợp trên.

Trên đây là tòan bộ tư vấn về vấn đề khi nào chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu có bất cứ thắc mắc hay chưa rõ về vấn đề trên, xin liên hệ ngay đến đến Luật sư Đỗ Thanh Lâm qua hotline 097 558 368 để được tư vấn miễn phí.

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

Hết Thời Hạn Xét Xử Vụ Án Hành Chính Mà Vụ Án Không Được Xét Xử Thì Phải Làm Gì?

Trên thực tế các vụ án hành chính diễn ra khá phổ biến và thông thường, người khởi kiện vụ án hành chính là người chịu nhiều thiệt thòi hơn bởi tính chất của vụ án hành chính là khởi kiện những quyết định, hành vi hành chính của cơ quan Nhà nước. Do vậy mà Luật Tố tụng hành chính đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hành chính đặc biệt là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Vậy giả sử khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử hành chính mà vụ án không được xét xử thì phải làm gì?
Khi nào thì hết thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hành chính? 

Theo Điều 130 Luật Tố tụng hành chính 2015 (LTTHC 2015) quy định: Thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định như sau:

  • 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 LTTHC 2015. Cụ thể là đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
  • 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 116 LTTHC 2015. Cụ thể là đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
  • Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02 tháng đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và không quá 01 tháng đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
  • Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, ngoài những thời hạn được quy định ở trên thì được xem là hết thời hạn chuẩn bị xét xử.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

Theo Điều 131 LTTHC 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử như sau:
  • Lập hồ sơ vụ án.
  • Yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ, văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện cho Tòa án; yêu cầu người khởi kiện nộp bản sao tài liệu, chứng cứ để Tòa án gửi cho đương sự.
  • Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật này.
  • Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
  • Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại theo quy định của Luật này; trừ vụ án theo thủ tục rút gọn và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri.
  • Ra một trong các quyết định: (I)Đưa vụ án ra xét xử; (II)Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; (III)Đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử
Khi thời hạn xét xử đã hết mà vụ án đang trong một trong những trường hợp sau thì được xem là hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà không được xét xử:

Trường hợp 1: Vụ án đã được Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết.

Đối chiếu với quy định của pháp luật thì Tòa án chỉ được quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án trong những trường hợp quy định tại Điều 141, Điều 143 LTTHC 2015. Và quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Như vậy, trong trường hợp này, đương sự có quyền kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp 2: Hết thời hạn giải quyết mà Thẩm phán không có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Trong trường hợp này, đương sự có thể làm đơn yêu cầu giải quyết vụ án hoặc làm đơn khiếu nại đến Chánh án Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 327, Khoản 1 Điều 332 LTTHC 2015.
Lưu ý:
  • Thời hiệu khiếu nại là 10 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc hành vi không đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại. (Điều 330 LTTHC 2015).
  • Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày kể từ ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được khiếu nại. Trường hợp cần thiết, đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được kéo dài nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại. (Điều 333 LTTHC 2015).
Ngoài ra, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người khiếu nại nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn quy định tại Điều 333 của Luật này mà khiếu nại không được giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

Trên đây là những quy định của pháp luật về việc hết thời hạn chuẩn bị xét xử hành chính mà vụ án không được xét xử thì phải làm gì. Trong trường hợp Quý bạn đọc có thắc mắc hay có vấn đề gì chưa rõ, xin vui lòng liên hệ ngay với Luật sư Đỗ Thanh Lâm qua Hotline: 0974 885 368 để được hỗ trợ và tư vấn miễn phí. Xin chân thành cảm ơn!