Bài đăng nổi bật

Các trường hợp thỏa thuận tài sản trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Thực tế, vợ chồng có thể có các thỏa thuận tài sản trong thời kỳ hôn nhân , tuy nhiên không phải thỏa thuận nào cũng được pháp luật công ...

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

Sổ đỏ bị cấp trùng cho nhiều người có khởi kiện được không?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là minh chứng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Chính vì vậy, khi sổ đỏ bị cấp trùng thì sẽ xảy ra những tranh chấp trong đất đai . Vậy Sổ đỏ bị cấp trùng cho nhiều người có được khởi kiện để bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, hộ gia đình sở hữu đất hợp pháp không?


Quy định về giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất

Theo Điều 104, 105 Luật Đất đai 2013 quy định về việc cấp Giấy chứng nhận đối với quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, bao gồm các chủ thể sau:
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
  • Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
  • Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Cách giải quyết

Việc sổ đỏ bị cấp trùng cho nhiều người là không phù hợp và theo Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 đã nêu ra cách giải quyết vấn đề này dựa trên quy định về những trường hợp Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp có:Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

Như vậy, trường hợp này những cá nhân, hộ gia đình sở hữu sổ đỏ bị cấp trùng sẽ bị thu hồi lại Giấy chứng nhận đã cấp. Nếu xảy ra tranh chấp và thỏa thuận được với nhau thì phải có văn bản thỏa thuận. Văn bản đó sẽ là căn cứ để yêu cầu ủy ban nhân dân huyện thu hồi và thực hiện cấp lại cho đúng diện tích thực tế. 

Nếu không thỏa thuận thì khi cấp trùng cho nhiều người mà những người được cấp trùng này không có quyền sử dụng đất thì người bị cấp trùng có quyền khởi kiện.


Thủ Tục Khởi Kiện

Trong trường hợp này, Người bị kiện là Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy, Thẩm quyền của Tòa án là Tòa án nhân dân. Thủ tục khởi kiện là thủ tục chung theo Luật tố tụng hành chính 2015.

TAND xem xét các căn cứ mà các bên đưa ra, dựa trên cơ sở việc ai sử dụng ổn định lâu dài thì sẽ xác định ai là người sử đụng đất theo quy định tại điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Cụ thể Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định như sau: Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

Theo đó, nếu người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đáp ứng được điều kiện để xác định có sử dụng đất ổn đinh, lâu dài trước thời điểm bên còn lại sử dụng trên diên tích đất đang xảy ra tranh chấp thì khi Tòa án giải quyết sẽ được công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đó.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về chủ đề “Sổ đỏ bị cấp trùng có khởi kiện được không?”. Nếu có thắc mắc hoặc muốn tư vấn trực tiếp, Qúy khách hàng vui lòng liên hệ Luật sư Đỗ Thanh Lâm qua hotline 0974.885.368, để được tư vấn miễn phí.

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2019

Di Chúc Để Lại Đất Đai Thế Nào Mới Có Hiệu Lực?

Với tâm lý mong muốn viết di chúc để lại đất đai cho các người thừa kế nhưng lại vì không am hiểu các quy định của pháp luật, sợ rằng bị rơi vào trường hợp di chúc của mình không có hiệu lực nên nhiều người còn đang e ngại. Nắm bắt tâm lý này, trong phạm vi bài viết này chúng tôi sẽ đưa đến cho quý bạn đọc câu trả lời cho câu hỏi Di chúc để lại đất đai thế nào mới có hiệu lực?

Di chúc và các điều kiện để di chúc có hiệu lực?

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Người lập di chúc Phải là người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật dân sự 2015 có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Người lập di chúc có quyền sau đây:

  • Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
  • Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
  • Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
  • Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
  • Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Về hình thức của di chúc thì di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. 

Di chúc bằng văn bản bao gồm:

  • Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Người lập di chúc phải tự viết tay và ký vào bản di chúc (Điều 633) 
  • Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc (Điều 634 BLDS 2015)
  • Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc Di chúc bằng văn bản có chứng thực theo quy định tại điều 635 Bộ luật Dân sự: "Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc."

Di chúc miệng

1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.”
Nội dung của di chúc:

1. Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.”

Di chúc hợp pháp còn phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Ngoài việc phải tuân thủ các quy định để di chúc là di chúc có hiệu lực thì di chúc đó phải không thuộc các trường hợp di chúc vô hiệu:

Di chúc vô hiệu do việc áp dụng di chúc không còn phù hợp với thực tế: Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Điều kiện để đất đai được phép để thừa kế:

Theo quy định của Luật đất đai tại Khoản 1 Điều 186 thì: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.”

Bên cạnh đó thì Điều 168 Luật đất đai cũng có quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Từ đó ta có thể rút ra kết luận điều kiện để thừa kế quyền sử dụng đất là người sử dụng có giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án và trong thời hạn sử dụng đất. 
Vậy nên để trả lời cho câu hỏi đã nêu ra ở đầu bài chúng tôi xin khái quát ngắn gọn rằng di chúc để lại đất đai có hiệu lực khi quyền sử dụng đất đó được phép để thừa kế và di chúc để thừa kế đất đai tuân thủ đúng những yêu cầu về di chúc, không bị vô hiệu.


Trên đây là những quy định của pháp luật về việc làm thế nào để di chúc để lại đất đai có hiệu lực. Trong trường hợp Quý bạn đọc có thắc mắc hay vấn đề nào chưa rõ, xin hãy liên hệ ngay với Luật sư Phan Mạnh Thăng qua Hotline: 0908 748 368 để được tư vấn miễn phí.

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

Con Không Cấp Dưỡng Cho Cha Mẹ Già Yếu Có Phạm Tội Không?

Hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ là nghĩa vụ của mỗi người con. Tuy nhiên trên thực tế không phải người con nào cũng thực hiện nghĩa vụ trên. Trong một số trường hợp, họ xem việc cấp dưỡng cho cha mẹ đã già yếu mang lại gánh nặng cho bản thân và từ đó họ bỏ mặc cha mẹ của mình. Những hành vi này đã đi ngược lại những giá trị văn hóa tốt đẹp của người Việt. Vì thế mà pháp luật đã quy định cụ thể nghĩa vụ cấp dưỡng của con cái đối với cha mẹ trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Vậy nếu con cái không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ già yếu thì có phạm tội không?

Nghĩa vụ cấp dưỡng của con cái đối với cha mẹ

Theo Điều 111 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Và theo Điều 107 Luật này thì đây là nghĩa vụ không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

Mức cấp dưỡng được Luật Hôn nhân và gia đình quy định như sau:

  • Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp nhiều người con cùng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ thì thực hiện theo quy định tại Điều 109 Luật Hôn nhân gia đình. Đó là những người con thỏa thuận với nhau về phương thức và mức đóng góp phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Những nội dung trên trong Luật Hôn nhân gia đình chỉ bao gồm những quy định về việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Vậy đâu là chế tài đối với việc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ này? Hãy cùng tìm hiểu quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Quy định của pháp luật hình sự

Điều 186 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2015 quy định về Tội từ chối hoặc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như sau Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Xét cấu thành tội phạm của tội trên:

Khách thể: Tội từ chối hoặc tội trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng xâm phạm đến quyền bảo đảm cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của người được cấp dưỡng trong đời sống hằng ngày.

Mặt khách quan:

Mặt khách quan của tội từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng đòi hỏi phải có hành vi từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người mà bản thân họ có nghĩa vụ cấp dưỡng. Cụ thể đó là hành vi của người theo quy định của pháp luật có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho người khác nhưng đã khước từ, không chịu chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng.

Mặt khách quan của tội trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đòi hỏi phải có hành vi cố tình tìm cách lảng tránh trách nhiệm cấp dưỡng cho người khác mà theo quy định của pháp luật phải có nghĩa vụ cấp dưỡng. Hành vi này có thể là hứa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng không thực hiện mặc dù có đủ điều kiện kinh tế, cố tình lánh mặt khi người được cấp dưỡng cần gặp mặt,…

Hậu quả của hành vi này làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm.

Chủ thể: Chủ thể của tội phạm ngoài việc đáp ứng hai điều kiện về tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 14 và không rơi vào tình trạng không có năng lực TNHS theo Điều 21 BLHS thì phải là những người thành niên có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.

Xét về hình phạt: Người phạm tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Như vậy, nếu con cái (đã đáp ứng điều kiện về mặt chủ thể) từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cấu thành tội tương ứng khi gây ra hậu quả nghiêm làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm.

Quy định của pháp luật hành chính

Khi con cái có hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cha mẹ già yếu mà những hành vi này chưa đáp ứng được những dấu hiệu được quy định tại mặt khách quan của các tội tương ứng thì sẽ áp dụng những quy định của pháp luật hành chính để xử phạt hành chính.

Điều 54 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình quy định như sau Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: 
  • Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật. 
  • Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
Từ quy định trên, khi con cái từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cha mẹ thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Trên đây là bài viết về Con không cấp dưỡng cho cha mẹ già yếu có phạm tội không. Trong trường hợp còn vướng mắc, xin hãy liên hệ Luật sư Đỗ Thanh Lâm qua Hotline 0974885 368 để được tư vấn miễn phí và hỗ trợ kịp thời.


Thứ Hai, 26 tháng 8, 2019

Khi Nào Chủ Sở Hữu Có Quyền Đòi Lại Tài Sản Từ Người Thứ Ba Ngay Tình?

Người thứ ba ngay tình được pháp luật hiện nay cho nhiều chế định để bảo vệ. Vậy thế nào là người thứ ba ngay tình và khi nào chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình? Để làm rõ hơn những thắc mắc của quý khách, chúng tôi xin cung cấp những thông tin liên quan đến chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình.


Thế nào là người thứ ba ngay tình?

Người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự thì pháp luật Dân sự không định nghĩa cụ thể thế nào người thứ ba ngay tình nhưng có thể hiểu người thứ ba ngay tình là người tại thời điểm tham gia giao dịch dân sự người này không có cơ sở để biết việc giao dịch của mình với người không có quyền định đoạt tài sản hoặc đối tượng tài sản của giao dịch liên quan đến giao dịch trước đó đã bị vô hiệu do tại thời điểm khi tham gia vào giao dịch dân sự, người thứ ba ngay tình hoàn toàn tin rằng người giao dịch với mình là người có quyền giao dịch và đối tượng tài sản giao dịch đáp ứng các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực, từ đó cho thấy người ngay tình hoàn toàn không có lỗi khi tham gia vào giao dịch.

Khi nào chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình?

Để làm rõ khi nào chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình thì trước tiên chúng tôi xin làm rõ những chế định liên quan đến người thứ ba ngay tình theo pháp luật Dân sự Viêt Nam: 

Đầu tiên, về việc chiếm hữu có căn cứ pháp luật, theo Điều 165 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Sau đây gọi tắt là BLDS 2015), thì chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong nhưng trường hợp sau:
  • Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
  • Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
  • Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao địch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
  • Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đấm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
  • Trường hợp khác do pháp luật quy định.
Thứ hai, về chiếm hữu ngay tình, theo Điều 180 BLDS 2015 thì chiếm hữu ngay tình là Việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để chứng minh rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu. Vậy pháp luật yêu cầu người chiếm hữu phải chứng mình được rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu, thì mới là chiếm hữu ngay tình.

Vậy người ngay tình là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình. Tức là ngừơi đó chiếm hữu tài sản mà không biết, không thế biết việc đó là không có căn cứ pháp luật như trường hợp người mua phải của gian mà không biết không thể biết đó là của gian.

Việc đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 133 BLDS 2015 thì chủ sở hữu không được đòi tài sản không được đăng kí từ người thứ ba ngay tình nếu giao dịch với ngừơi thứ ba đã được xác lập. Tuy nhiên, theo Điều 167 BLDS 2015 thì chủ sở hữu vẫn được đòi lại động sản không được đăng ký trong trường hợp người ngay tình có được tài sản thông qua hợp đồng không đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp là hợp đồng đền bù thì chủ sở hữu được đòi lại động sản nếu động sản đó bị cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý trí của chủ sở hữu.

Thứ hai, theo khoản 2 Điều 133 BLDS 2015, thì chủ sở hữu không được đòi tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu sau khi đăng ký tài sản đó được chuyển bằng giao dịch cho người thứ ba ngay tình mà người đó căn cứ vào đăng ký để xác lập giao dịch và giao dịch của người thứ ba ngay tình không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải được đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch của người thứ ba vô hiệu. Trừ trường hợp người này nhận được tài sản thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị sửa, hủy.

Thứ ba, theo khoản 3 Điều 133 BLDS 2015, trong trường hợp chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình thì có thể kiện, yêu cầu chủ thể dẫn lối đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba bồi thường và hoàn trả lại những chi phí hợp lý. Việc này nhầm lấy lại phần nào đó quyền lợi cho chủ sỡ hữu.

Như vậy, chủ sở hữu thật sự có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình nếu thuộc các trường hợp trên.

Trên đây là tòan bộ tư vấn về vấn đề khi nào chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu có bất cứ thắc mắc hay chưa rõ về vấn đề trên, xin liên hệ ngay đến đến Luật sư Đỗ Thanh Lâm qua hotline 097 558 368 để được tư vấn miễn phí.

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

Hết Thời Hạn Xét Xử Vụ Án Hành Chính Mà Vụ Án Không Được Xét Xử Thì Phải Làm Gì?

Trên thực tế các vụ án hành chính diễn ra khá phổ biến và thông thường, người khởi kiện vụ án hành chính là người chịu nhiều thiệt thòi hơn bởi tính chất của vụ án hành chính là khởi kiện những quyết định, hành vi hành chính của cơ quan Nhà nước. Do vậy mà Luật Tố tụng hành chính đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hành chính đặc biệt là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Vậy giả sử khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử hành chính mà vụ án không được xét xử thì phải làm gì?
Khi nào thì hết thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hành chính? 

Theo Điều 130 Luật Tố tụng hành chính 2015 (LTTHC 2015) quy định: Thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định như sau:

  • 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 LTTHC 2015. Cụ thể là đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
  • 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 116 LTTHC 2015. Cụ thể là đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
  • Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02 tháng đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và không quá 01 tháng đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
  • Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, ngoài những thời hạn được quy định ở trên thì được xem là hết thời hạn chuẩn bị xét xử.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

Theo Điều 131 LTTHC 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử như sau:
  • Lập hồ sơ vụ án.
  • Yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ, văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện cho Tòa án; yêu cầu người khởi kiện nộp bản sao tài liệu, chứng cứ để Tòa án gửi cho đương sự.
  • Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật này.
  • Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
  • Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại theo quy định của Luật này; trừ vụ án theo thủ tục rút gọn và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri.
  • Ra một trong các quyết định: (I)Đưa vụ án ra xét xử; (II)Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; (III)Đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử
Khi thời hạn xét xử đã hết mà vụ án đang trong một trong những trường hợp sau thì được xem là hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà không được xét xử:

Trường hợp 1: Vụ án đã được Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết.

Đối chiếu với quy định của pháp luật thì Tòa án chỉ được quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án trong những trường hợp quy định tại Điều 141, Điều 143 LTTHC 2015. Và quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Như vậy, trong trường hợp này, đương sự có quyền kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp 2: Hết thời hạn giải quyết mà Thẩm phán không có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Trong trường hợp này, đương sự có thể làm đơn yêu cầu giải quyết vụ án hoặc làm đơn khiếu nại đến Chánh án Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 327, Khoản 1 Điều 332 LTTHC 2015.
Lưu ý:
  • Thời hiệu khiếu nại là 10 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc hành vi không đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại. (Điều 330 LTTHC 2015).
  • Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày kể từ ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được khiếu nại. Trường hợp cần thiết, đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được kéo dài nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại. (Điều 333 LTTHC 2015).
Ngoài ra, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người khiếu nại nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn quy định tại Điều 333 của Luật này mà khiếu nại không được giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

Trên đây là những quy định của pháp luật về việc hết thời hạn chuẩn bị xét xử hành chính mà vụ án không được xét xử thì phải làm gì. Trong trường hợp Quý bạn đọc có thắc mắc hay có vấn đề gì chưa rõ, xin vui lòng liên hệ ngay với Luật sư Đỗ Thanh Lâm qua Hotline: 0974 885 368 để được hỗ trợ và tư vấn miễn phí. Xin chân thành cảm ơn!

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2019

Đã Có Phán Quyết Trọng Tài Thì Có Quyền Khởi Kiện Tiếp Không?

Trong cuộc sống và đặc biệt là trong các hoạt động kinh doanh thương mại, tranh chấp thường xuyên xảy ra vì nhiều lý do khác nhau. Khi có tranh chấp xảy ra, các bên có quyền lựa chọn các phương án giải quyết khác nhau như thỏa thuận, hòa giải, giải quyết bằng Trọng tài hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Tùy theo tính chất, mức độ tranh chấp mà lựa chọn các phương án khác nhau để đạt được kết quả tốt nhất. Vậy, khi đã có phán quyết Trọng tài thì một bên có quyền khởi kiện tiếp không?
Khi nào thì một vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài?
Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng. Trong đó, thoả thuận trọng tài theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh. Trọng tài có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp sau đây:

  • Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
  • Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
  • Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.

Các bên có quyền khởi kiện tiếp không khi đã có phán quyết Trọng tài? 
Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài. Phán quyết trọng tài là chung thẩm. Mặc dù vậy, các bên vẫn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp khi đã có phán quyết Trọng tài trong trường hợp đặc biệt.
Cần phải khẳng định một điều rằng phán quyết của Trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Kể cả trong trường hợp chưa có phán quyết Trọng tài thì Toà án cũng phải từ chối thụ lý trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được. Theo đó thỏa thuận Trọng tài vô hiệu theo quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010 là thỏa thuận thuộc một trong những trường hợp sau đây:
  • Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật Trọng tài thương mại 2010;
  • Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
  • Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
  • Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.
  • Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
Thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP là thỏa thuận thuộc một trong những trường hợp sau đây:
Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp. 
  • Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế. 
  • Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế. 
  • Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế. 
  • Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, phán quyết Trọng tài luôn có một khoảng thời hạn nhất định để thi hành phán quyết. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài thương mại 2010 thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật Trọng tài thương mại 2010, thì có quyền làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. 
Do đó, khi có đủ căn cứ để yêu cầu Tòa án hủy phán quyết Trọng tài và Tòa án xem xét tiến hành các thủ tục để hủy phán quyết Trọng tài, sau khi Quyết định hủy phán quyết Trọng tài có hiệu lực thì các bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
Căn cứ để yêu cầu Tòa án hủy phán quyết Trọng tài?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 Luật  Trọng tài thương mại 2010 (Luật TTTM), được hướng dẫn bởi Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP thì căn cứ để yêu cầu Tòa án hủy phán quyết Trọng tài là:
  • Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu như đã trình bày ở trên.
  • Trường hợp các bên có thỏa thuận về thành phần Hội đồng trọng tài, quy tắc tố tụng trọng tài nhưng Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng thỏa thuận của các bên hoặc Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng quy định Luật TTTM về nội dung này mà Tòa án xét thấy đó là những vi phạm nghiêm trọng và cần phải hủy nếu Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắc phục theo yêu cầu của Tòa án.
  • Trường hợp Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 Luật TTTM; hoặc Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp mà không được các bên thỏa thuận yêu cầu Trọng tài giải quyết hoặc giải quyết vượt quá phạm vi của thỏa thuận đưa ra Trọng tài giải quyết.
  • Phán quyết Trọng tài vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam.
Nhìn chung khi các bên đã thỏa thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài thương mại thì nên tôn trọng phán quyết của Trọng tài. Trong trường hợp quá thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thì sẽ không thể yêu cầu hủy phán quyết Trọng tài. Và chỉ khi phán quyết Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy thì các bên mới có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về chủ đề “Đã có phán quyết Trọng tài thì có quyền khởi kiện tiếp không?”. Nếu có thắc mắc hoặc muốn tư vấn trực tiếp,  các bạn vui lòng liên hệ Luật sư Đỗ Thanh Lâm qua hotline 0974 885 368, để được tư vấn miễn phí.

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2019

Tranh Chấp Nuôi Con Khi Không Đăng Ký Kết Hôn Giải Quyết Như Thế Nào?

Mối quan hệ cha, mẹ, con phát sinh dựa vào sự kiện sinh đẻ, sự kiện nuôi dưỡng, sự kiện sống chung. Đối với sự kiện sinh đẻ, mối quan hệ này phát sinh khi giữa cha, mẹ đã đăng kí kết hôn hoặc ngay cả khi giữa họ không tồn tại quan hệ hôn nhân. Con được sinh ra mà giữa cha, mẹ không đăng kí kết hôn thì vẫn được hưởng những quyền lợi và được nhà nước, pháp luật bảo vệ. Vậy khi không đăng kí kết hôn mà giữa họ có con chung và xảy ra tranh chấp về quyền giành nuôi con thì sẽ giải quyết như thế nào?
Những vấn đề pháp lý khi không đăng ký kết hôn
Tại Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Luật HN&GĐ) quy định:

  • Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
  • Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

Về địa vị pháp lý, giữa nam và nữ đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn thì được xem là chung sống như vợ chồng.
Như vậy, khi nam và nữ chung sống với nhau nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền thì khi có tranh chấp xảy ra và có yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ.
Thêm vào đó, về nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong quan hệ hôn nhân phải giải quyết ba vấn đề lớn: quan hệ hôn nhân, tài sản và con cái. Những vấn đề này cũng được pháp luật quy định cụ thể tại Điều 14 Luật HN&GĐ. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật HN&GĐ về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. (Điều 15 Luật HN&GĐ)
Thứ ba, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. (Điều 16 Luật HN&GĐ).
Pháp luật giải quyết về tranh chấp nuôi con như thế nào?
Căn cứ theo Điều 81 Luật HN&GĐ quy định quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con của cha mẹ như sau:
Về đối tượng: là con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
Về việc xác định quyền nuôi con:
  • Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
  • Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Như vậy, Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì:
  • Đối với con dưới 36 tháng tuổi, mẹ trực tiếp nuôi (trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện nuôi con)
  • Đối với con từ đủ 36 tháng tuổi trở lên thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con (như thu nhập, nơi ở, sức khỏe, môi trường sống, thời giờ làm việc, tình cảm đối với con, ... ).
  • Trong trường hợp con từ đủ 07 tuổi trở lên thì xem xét nguyện vọng của con. Việc xem xét này chỉ mang tính chất tham khảo, không mang tính quyết định trong việc ai trực tiếp nuôi con.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ khi không trực tiếp nuôi con
Căn cứ theo Điều 82 Luật HN&GĐ quy định thì:
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Nhìn chung, pháp luật quy định về giải quyết tranh chấp nuôi con ngay cả khi không đăng ký kết hôn hay đã đăng ký kết hôn đều nhằm vào mục đích đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho con được phát triển đầy đủ và toàn vẹn nhất. 
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về vấn đề tranh chấp nuôi con khi không đăng ký kết hôn giải quyết như thế nào. Trong trường hợp Quý bạn đọc có thắc mắc hay có vấn đề gì chưa rõ. Vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 0908 748 368 để được tư vấn miễn phí. Xin chân thành cảm ơn!